Quy định về hiệu lực thế chấp

0
25

Quy định về hiệu lực thế chấp

Khái niệm

Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể về thế chấp nói chung và hiệu lực của thế chấp nói riêng, cụ thể như sau

Điều 319 BLDS 2015 quy định về hiệu lực của thế chấp tài sản

  1.           Hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
  2.           Thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

Đây là một trong những điểm mới của BLDS 2015 đối với việc thế chấp tài sản. Nếu BLDS 2005 không có điều khoản nào quy định về hiệu lực của thế chấp tài sản  thì đến BLDS 2015 đã quy định một điều luật riêng về hiệu lực của thế chấp.

Tùy từng trường hợp cụ thể, đăng ký thế chấp tài sản (một trong các biện pháp bảo đảm) có thể bắt buộc hoặc không bắt buộc. Trong trường hợp bắt buộc phải đăng ký theo quy định của pháp luật (ví dụ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng,…) thì việc thế chấp có hiệu lực từ thời điểm đăng ký thế chấp và phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba.

Ví dụ: A thế chấp ngôi nhà của mình cho B để vay 300 triệu, đã được công chứng, nhưng không thực hiện việc đăng ký thế chấp. Sau đó, A lại thế chấp ngôi nhà của mình cho ngân hàng C để vay 500 triệu và ngân hàng đã đăng ký thế chấp. Khi A bị vỡ nợ, không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ với B và C thì hợp đồng thế chấp tài sản với ngân hàng phát sinh hiệu lực. Ngân hàng được ưu tiên thanh toán trước, nếu còn thừa thì mới thanh toán tiếp cho B.

Hiệu lực pháp lý

Bao gồm 2 quyền:

-Quyền ưu tiên

– Quyền truy đòi

Về quyền ưu tiên được quy định như sau: 

Bên nhận thế chấp được quyền được quyền ưu tiên thanh toán theo thứ tự công khai hóa vật quyền thế chấp.

Ví dụ 1: A thế chấp xe ô tô để vay của B 500 triệu, sau đó lại vay tiếp của C 300 triệu và C đã thực hiện đăng ký thế chấp. Khi đó, C được quyền ưu tiên thanh toán khi A không thể thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho B và C. Giả sử khi định giá tài sản, ô tô của A trị giá 600 triệu, thì sẽ thanh toán cho C 300 triệu, 300 triệu còn lại thanh toán cho B.

Ví dụ 2: A thế chấp xe ô tô để vay của B 500 triệu, sau đó lại vay tiếp của C 300 triệu. B và C đều thực hiện đăng ký thế chấp ngay sau khi cho A vay. Khi A không thể thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho B và C, quyền ưu tiên thanh toán sẽ căn cứ vào thời gian đăng ký thế chấp của B và C. Giả sử khi định giá tài sản, ô tô của A trị giá 600 triệu, do B đăng ký trước nên sẽ được ưu tiên thanh toán khoản nợ 500 triệu trước, 100 triệu còn lại thanh toán cho C.

Về quyền truy đòi được quy định như sau:

Bản chất của thế chấp (trong sự phân biệt với cầm cố) là tài sản thế chấp không chuyển giao cho bên nhận thế chấp mà vẫn do bên thế chấp (chủ sở hữu) hoặc người thứ ba trực tiếp nắm giữ, khai thác, sử dụng và làm tăng giá trị kinh tế của tài sản thế chấp (Điều 317, 324 BLDS 2015). Do đó, ở biện pháp thế chấp, tính vật quyền thể hiện rõ nhất ở quyền truy đòi tài sản thế chấp và thực hiện kê biên, bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp thế chấp.

Quyền truy đòi tài sản thế chấp được bên nhận thế chấp thực hiện không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ chủ thể nào, bên thế chấp (chủ sỡ hữu tài sản thế chấp) hay bên đang thực tế chiếm hữu tài sản thế chấp.

Để được quyền truy đòi và định đoạt đối với tài sản thế chấp, bên nhận thế chấp phải thực hiện thủ tục công khai hóa cho người thứ ba biết về vật quyền thế chấp của mình thông qua thiết chế đăng ký.

Bộ luật Dân sự năm 2005 không quy định về quyền truy đòi tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm, nhưng Nghị định hướng dẫn Bộ luật Dân sự năm 2005 về giao dịch bảo đảm (Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm) có quy định về quyền thu giữ tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm để xử lý tại Điều 63, mặc dù, chưa rõ ràng về lý thuyết tiếp cận là trái quyền hay vật quyền. Đến Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền truy đòi tài sản thế chấp của bên nhận thế chấp mới được ghi nhận trên nền tư duy tiếp cận rõ ràng và mạch lạc hơn về vật quyền thế chấp. Theo quy định của khoản 2 Điều 297 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi biện pháp thế chấp phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận thế chấp được quyền truy đòi tài sản thế chấp.

Ví dụ: A thế chấp chiếc nhẫn kim cương của mình để vay B 250 triệu và 2 bên thống nhất giao cho C giữ chiếc nhẫn. A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho B, khi đó B thực hiện quyền truy đòi của mình, yêu cầu C đưa nhẫn cho mình để thanh toán khoản nợ A đã vay.

>>>> Xem thêm: Dịch vụ thành lập doanh nghiệp

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.